Nguy cơ nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật trong máu người

10/30/2018 11:53:05 AM
Tại sao nhiều người không tiếp xúc trực tiếp với thuốc BVTV mà lại có nguy cơ  bị nhiễm độc máu như vậy? Tại sao quá nhiều người bị suy giảm men ChE huyết tương đến thế do thuốc BVTV?

Gần đây, dư luận đang rất xôn xao về “Nguy cơ nhiễm độc thuốc bảo vệ thực vật trong máu". Thông tin này đăng tải trên nhiều tờ báo và phương tiện truyền thông, như: “Báo động: Xét nghiệm 67 người ở Hà Nội thì 31 người tồn dư thuốc bảo vệ thực vật trong máu” (bằng cách tách huyết tương từ máu người, nhỏ vào chất chỉ thị màu để kiểm tra nồng độ thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) trong máu). Bằng cách đánh giá nồng độ men Cholinesterase (ChE) trong huyết tương bằng giấy phản ứng, đã xác định 138 trường hợp có nguy cơ và 43 trường hợp không an toàn (56,8% và 17,7% trong tổng số 243 người tham gia). Đơn vị thực hiện khảo sát được nói đến là Viện Sức khỏe Nghề nghiệp và Môi trường,Bộ Y tế. Các thông tin này được lan truyền chóng mặt trên các báo điện tử những ngày gần đây làm không ít người hoang mang.

Nguyên là Trưởng Bộ môn Thuốc, Cỏ dại và Môi trường, Viện Bảo Vệ Thực Vật và trực tiếp phụ trách Phòng phân tích dư lượng Thuốc BVTV (2000 – 2012), chủ trì đề tài nghiên cứu trọng điểm cấp Bộ: “Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp phân tích nhanh (Enzim, Elisa) và phân tích đa dư lượng thuốc BVTV trong nông sản, phục vụ kiểm soát nông sản an toàn”, 2003- 2005), tôi thấy cần phải có ý kiến, góp phần giúp hiểu đúng thực trạng tồn dư thuốc BVTV hiện nay.

Tại sao nhiều người không tiếp xúc trực tiếp với thuốc BVTV mà lại có nguy cơ  bị nhiễm độc máu như vậy? Tại sao quá nhiều người bị suy giảm men ChE huyết tương đến thế do thuốc BVTV? Trong khi đó, các thuốc ảnh hưởng đến men ChE là Lân hữu cơ và Carbamate lại là các thuốc nhanh bị phân hủy trong môi trường cũng như cơ thể người và vật nuôi và hiện có tỷ trọng thấp khoảng 10% tổng lượng thuốc được sử dụng mà thôi.

1. Không phải thuốc BVTV độc ở mọi hàm lượng

Trước hết, cần thống nhất về cách nhìn khách quan về thuốc BVTV. Do đòi hỏi của xã hội và sự phát triển của khoa học, con người phát minh ra và sử dụng ngày càng nhiều chủng loại hóa chất chữa bệnh cho người, cho gia súc và bảo vệ cây trồng. Cũng như thuốc y tế và thuốc thú y, thuốc BVTV phải được coi là công cụ không thể thiếu được cho đời sống và sản xuất. Và chúng chỉ được coi là độc hại khi dư lượng của chúng trong nông sản, môi trường (kể cả trong cơ thể người) đạt một mức độ nào đó đủ gây hại cho con người và vật nuôi.

Không ít hóa chất BVTV có độ độc cấp tính qua miệng với động vật máu nóng thấp hơn cả muối ăn, thậm chí thấp hơn nhiều so với thuốc cho người như Aspirin. Có hoạt chất dùng trong thuốc chuột cũng là hoạt chất được dùng để ngăn ngừa bệnh đột quỵ và nhồi máu cơ tim cho người (Warfarin). Về độ độc mãn tính, các thuốc BVTV có khả năng  gây ung thư nhóm 1 và nhóm 2A đã bị loaị bỏ (trong khi đó Tổ chức nghiên cứu ung thư quốc tế IARC cho biết: sản phẩm thịt chế biến sẵn thuộc nhóm 1, thịt đỏ thuộc nhóm 2A về khả năng gây ung thư cho người - chúng ta vẫn đang dùng hàng ngày – dù rất cần lưu ý sau khi  đã có cảnh báo). Thời gian qua, chúng ta đã và đang tìm mọi cách để thuốc BVTV được sử dụng ngày càng hợp lý hơn.  Bản thân thuốc BVTV không có tội. Vấn đề là con người sử dụng chúng ra sao đểvừa kiểm soát được dịch hại, vừa an toàn cho con người, vật nuôi và môi trường.

2. Về kiểm tra tồn dư thuốc BVTV trong nông sản và môi trường

Ngày nay, chúng ta đã có nhiều công cụ hiện đại để kiểm tra dư lượng thuốc BVTV trong nông sản như hệ thống các máy sắc ký(GC, LC), sắc ký khối phổ (GCMS, LCMS), … có thể xác định đến nồng độ chất độc đến một phần tỷ (ppb). Song, do để kiểm tra nhanh và ít tốn kém, các phương pháp kiểm tra nhanh (KIT thử nhanh dựa trên khả năng ức chế men ChE của thuốc Lân hữu cơ và Carbamate, KIT ELISA dựa trên phản ứng miễn dịch đặc hiệu với một hoặc một nhóm thuốc đặc thù, …) cũng được hình thành và thử nghiệm  trong mấy chục năm qua.

Nhóm các phương pháp sử dụng KIT ELISA(đánh giá hấp phụ miễn dịch liên kết men) thường được dùng để kiểm tra sự có mặt hay không của thuốc cực độc, thuốc cấm, chất gây ung thư, có độ nhậy khá cao, song chỉ là định tính (có mặt hay không) và chỉ cho một hoặc rất ít thuốc cùng nhóm.

Nhóm các phương pháp phân tích nhanh dư lượng thuốc dựa trên khả năng ức chế men ChE chỉ có hiệu quả trên các thuốc BVTV có khả năng ức chế men này. Đó là các thuốc Lân hữu cơ và Carbamate. Phương pháp của Viện Sức Khỏe Nghề Nghiệp và Môi Trường thuộc nhóm phương pháp này. Kết quả nghiên cứu của Viện Bảo Vệ Thực Vật (Báo cáo khoa học:“Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp phân tích nhanh (Enzim, Elisa) và phân tích đa dư lượng thuốc BVTV trong nông sản, phục vụ kiểm soát nông sản an toàn”, 2005) đã cho kết luận về phương pháp phân tích nhanh dựa trên Enzim ChE  như sau:

Ưu điểm của các phương pháp này là chi phí thấp, thời gian nhanh, thao tác không phức tạp.

Nhược điểm của nhóm phươmg pháp này cũng rất nhiều như:

- Chủ yếu là định tính chỉ cho hai nhóm thuốc Lân Hữu cơ và Carbamate theo kiểu có mặt và có mặt ở mức nguy cơ cao hơn.  Hiện, các thuốc thuộc hai nhóm này còn rất ít trong các thuốc BVTV được phép sử dụng ở Việt Nam (khoảng 10% so với tổng số các hoạt chất thuốc BVTV). Do vậy, phương pháp này để lọt đa số các thuốc BVTV được sử dụng hiện nay. Hơn nữa, các thuốc Lân Hữu cơ và Carbamate có đặc điểm nhanh bị phân hủy trong môi trường, nhanh bị đào thải ra khỏi cơ thể người và động vật. Việc ức chế men ChE trong người với thuốc Carbamate chỉ trong vài giờ, với thuốc Lân Hữu cơ chỉ trong vài ngày đến vài tuần [2].

- Dù chủ yếu là định tính song phương pháp dựa vào việc ức chế men ChE cũng rất khác biệt giữa các thuốc về  độ nhậy khi thử nghiệm. Bản chất của vấn đề là men ChE được sử dụng là của một động vật nào đó (như từ đầu ruồi, đầu ong,   huyết thanh ngựa chửa,…) không phải bị ức chế như nhau với từng loại thuốc thử. Thuốc nào càng độc với các động vật trên thì càng nhậy với việc ức chế men ChE của chúng.

Theo kết quả thử nghiệm tại Việt Nam và các nước, phản ứng dương tính (qua chất chỉ thị màu) của các thuốc này khá khác nhau, thậm chí khác nhau rất lớn.Ví dụ, KIT của Đài Loan, Thái Lan, Viện BVTV (Việt Nam)  cho phản ứng dương tính với Dimethroate ở hàm lượng  tương ứng là 299, 150 và 100 ppm với Methidathion ở hàm lượng tương ứng là 10, 150, 7 ppm (quá cao so với mức dư lượng tối đa cho phép mới phát hiện được, tức là sẽ cho nhiều kết quả âm sai). Trong khi đó KIT của  Thái Lan và Việt Nam này lại có phản ứng dương tính với Profenofos tương ứng chỉ là 0,005 và 0,01 ppm, quá thấp so với mức dư lượng cho phép và thường cho sai số lớn với kết quả dương sai).

Như vậy, các KIT thử nhanh dựa trên việc ức chế men ChE không kiểm soát được các thuốc kể cả nhóm Lân Hữu cơ và Carbamate khi chúng không ức chế tốt ChE, song lại báo động không ít thuốc thực ra ở mức rất an toàn do chúng quá nhậy trong ức chế ChE được chọn trong bộ KIT thử, tức cho kết quả cả âm sai và dương sai.

Kết quả của việc đánh giá nhanh này không có ý nghĩa pháp lý và cũng chỉ nói lên sự có mặt (mà không đầy đủ  các thuốc thuộc nhóm Lân Hữu cơ và Carbamate theo nghĩa định tính). Nếu dùng số liệu này như bài báo đã nêu mà đánh giá nguy cơ sẽ là không có cơ sở khoa học.Năm 2010, Hội đồng Khoa học của Cục BVTV do nguyên Cục trưởng Nguyễn Quang Minh chủ trì đã không chấp nhận việc “sử dụng  KIT Enzim để đánh giá sự an toàn của nông sản” do Chi Cục BVTV Tp. Hồ Chí Minh đề xuất cũng vì lý do tương tự như trên.

Thực ra, các phương pháp này được sử dụng và tạm chấp nhận giai đoạn trước đây khi thuốc Lân Hữu cơ và Carbamate được sử dụng chiếm tỷ trọng lớn trong các thuốc BVTV và các thiết bị phân tích hiện đại còn quá khan hiếm.

Hiện nay, với phương pháp phân tích đa dư lượng dựa trên hệ thống sắc ký và sắc ký khối phổ, chúng ta hoàn toàn có thể kiểm soát sự có mặt (định tính) và định lượng với mức chính xác một phần tỷ của đa số các hoạt chất BVTV trong nông sản, môi trường, kể cả trong máu người. Những con số này mang ý nghĩa pháp lý mà mọi phương pháp phân tích nhanh không thể thay thế được.

3. Về việc đánh giá nồng độ men ChE trong huyết tương bằng giấy phản ứng

Theo tài liệu trong và ngoài nước, hàm lượng men ChE trong con người (trong đó có men ChE huyết thanh - PchE)  thay đổi rất nhiều trong mỗi con người, giữa các cá nhân, giữa kết quả phân tích các phòng phân tích, giữa các phương pháp thử nghiệm.  ChE trong con người bị suy giảm do nhiễm độc các thuốc Lân Hữu cơ và Carbamate, song chúng được hồi phục sau vài giờ đến vài tuần. Do đó, tốt nhất là nên lập được trị số ChE ban đầu trước khi phơi nhiễm các thuốc BVTV hoặc trị số gần nhất  mới có thể dễ xem xét khi so sánh chúng với nhau.

Việc dùng KIT để xác định sự suy giảm của men ChE huyết tương do thuốc BVTV là không hợp lý. Người ta chỉ giám sát suy giảm hoạt tính của men này cho những người trực tiếp và thường xuyên tiếp xúc với thuốc BVTV để đánh giá sự ngộ độc của thuốc Lân Hữu cơ và Carbamate mà thôi[2].

Hơn nữa, các thuốc BVTV nhóm Lân và Carbamate cũng chỉ là một trong 14 các nhân tố làm giảm ChE của con người. Những nhân tố sau cũng làm suy giảm hoạt tính của men ChE huyết thanh như: Nhiễm trùng cấp, suy dinh dưỡng mãn, viêm gan, viêm da cơ, bệnh thận mãn, uống hoặc tiêm các thuốc dãn cơ, atropin, estrogen, thuốc ngừa thai, vitamin K,….[3].

Như vậy,không có cơ sở khoa học khi dùng KIT thử nhanh mà đánh giá được sự suy giảm hoạt tính của men ChE huyết thanh của người do thuốc BVTV ở mức nguy cơ hoặc không an toàn được như bài báo đã nêu.

Kết luận

1.Việc dùng các KIT thử nhanh dựa trên sự ức chế men ChE không có giá trị pháp lý và không có cơ sở khoa học để khẳng định sự an toàn hay nguy cơ nhiễm độc thuốc BVTV trong nông sản, con người và môi trường. Nó chỉ định tính song có không ít kết quả dương sai và âm sai, nên kết quả chỉ mang tính chất tham khảo, tuyệt đối không nên thông báo khi chưa có cơ sở khoa học và thực tiễn làm ảnh hưởng tiêu cực đến tâm lý xã hội và người sản xuất.

2.Việc đánh giá suy giảm hoạt tính của men ChE huyết tương và kết luận mức độ ngộ độc thuốc BVTV là không có cơ sở khoa học do trị số này biến động rất nhiều và thuốc BVTV (nhóm Lân Hữu cơ và Carbamate) và chỉ là một trong rất nhiều nguyên nhân làm suy giảm men ChE huyết tương của người.

3. Những thông báo về đánh giá mức độ nhiễm độc và tồn dư thuốc BVTV  trong cơ thể người là vô cùng nhạy cảm và đòi hỏi phải có các đánh giá chính xác. Điều này hoàn toàn có thể làm được bằng hệ thống máy phân tích công cụ chính xác ở cả hai bộ: Bộ Nông Nghiệp &PTNT và Bộ Y tế. Nên chăng cần có các Hội đồng với nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để thông qua các kết quả quan trọng này trước khi đưa ra đại chúng. Và nếu không thỏa đáng, các thông tin trên cần đính chính ngay, tránh gây hoang mang cho xã hội và người sản xuất.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Nguyễn Trường Thành và các tác giả (2005). Báo cáo kết quả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ứng dụng các phương pháp phân tích nhanh (Enzim, Elisa) và phân tích đa dư lượng thuốc BVTV trong nông sản, phục vụ kiểm soát nông sản an toàn”. Viện Bảo Vệ Thực Vật,2005.

2. Cholinesterase Inhibition (1993). A Pesticide Information Project of Cooperative Extension Offices of Cornell University, Michigan State University, Oregon State University, and University of California at Davis. Major support and funding was provided by the USDA/Extension Service/National Agricultural Pesticide Impact Assessment Program.

3. Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Thị Hương (2013). Các xét nghiệm thường quy áp dụng trong thực hành lâm sàng. NXB Y học.

Suckhoecuocsong.com.vn/Theo Tạp chí thử nghiệm ngày nay

Các tin khác