Nguồn gốc và tên gọi Quảng trường Ba Đình

9/4/2015 1:35:00 AM
Mỗi khi đi qua quảng trường Ba Đình lịch sử, ai ai cũng thấy tự hào, lòng lâng lâng, cảm xúc...bởi đây là nơi Bác Hồ đã đọc bản tuyên ngôn độc lập. Tuy nhiên, nguồn gốc và tên gọi Quảng trường Ba Đình có ý nghĩa như thế nào thì không phải ai cũng hiểu biết tường tận...

Ngược dòng thời gian trở về 70 năm trước, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bác Hồ muôn vàn kính yêu của chúng ta đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa trở thành nước độc lập, có chủ quyền. Vì vậy, mỗi khi đi qua quảng trường Ba Đình lịch sử, ai ai cũng thấy tự hào, lòng lâng lâng, cảm xúc...Tuy nhiên, nguồn gốc và tên gọi Quảng trường Ba Đình có ý nghĩa như thế nào thì không phải ai cũng hiểu biết tường tận...
Cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Thanh Hóa
Ba Đình (tên cứ điểm ở huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hoá) gắn liền với hai danh tướng Trần Xuân Soạn và Đinh Công Tráng. Hai danh tướng hưởng ứng phong trào Cần Vương chống Pháp theo hịch của vua Hàm Nghi.  

Nguồn gốc và tên gọi Quảng trường Ba Đình
Quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập

khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 
Trần Xuân Soạn (1849-1923) người làng Thọ Hạc (nay là phường Đông Thọ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa. Đầu tháng 4 năm 1885, thời vua Hàm Nghi, ông cùng tướng Tôn Thất Thuyết đánh Pháp đóng ở đồn Mang Cá trong trận Kinh thành Huế. Sau khi thất bại, ông lãnh nhiệm vụ tổ chức phong trào Cần vương kháng Pháp ở Thanh Hóa.
Trần Xuân Soạn cùng Phạm Bành, Đinh Công Tráng đi xây dựng cứ điểm Ba Đình (Thanh Hoá), tiếp tục chỉ đạo cuộc kháng chiến. Trần Xuân Soạn đóng quân ở phủ Quảng Hóa để hỗ trợ cho căn cứ Ba Đình, và giữ mối hiện hệ giữa Ba Đình và Mã Cao. Năm Quý Hợi (1923), Trần Xuân Soạn mất tại Long Châu, thọ 74 tuổi.
Đinh Công Tráng và phong trào Cần vương chống Pháp cuối thế kỷ 19
Hưởng ứng, phong trào Cần Vương, 2.1886, Đinh Công Tráng cùng với các đồng đội của mình đã chọn vùng đất thuộc ba làng là: Mậu Thịnh, Thượng Thọ, Mỹ Khê (vì mỗi làng có một ngôi đình, từ làng này có thể nhìn thấy đình của hai làng kia, nên gọi là căn cứ Ba Đình; nay thuộc xã Ba Đình, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa) làm căn cứ kháng chiến lâu dài. Từ đây, nghĩa quân có thể tỏa đi các nơi, kiểm soát các tuyến giao thông quan trọng trong vùng, tổ chức phục kích các đoàn xe vận tải của đối phương đi lại trên con đường Bắc-Nam... Chính vì vậy, mà quân Pháp quyết tâm đánh dẹp cứ điểm quan trọng này. 

 Nguồn gốc và tên gọi Quảng trường Ba Đình
Bác sĩ Trần Văn Lai – người đã Việt hóa tên các con phố của Hà Nội
Sáng 21.7.1887, quân Pháp chiếm được cứ điểm Ba Đình. Sau khi ra sức tàn phá, họ còn bắt buộc triều đình nhà Nguyễn phải xóa tên ba làng trên bản đồ hành chính. Sau thất bại ở Ba Đình (Thanh Hóa), Đinh Công Tráng về Nghệ An, định gây lại phong trào, nhưng đến ngày 5 tháng 10 năm 1887 thì ông hy sinh trong một trận chiến đấu tại làng Trung Yên, huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An.
Mason một tướng Pháp nhận định về Đinh Công Tráng như sau: "Ông là người có trật tự, trọng kỷ luật, cương trực, hay nghiêm trị những thủ hạ quấy nhiễu dân; có chí nhẫn nại, biết mình, biết người, không bao giờ hành binh cẩu thả, giỏi lập trận thế".
Đề cập đến sự thất bại, nhóm tác giả sách Đại cương lịch sử Việt Nam (Tập 2) cho rằng: "Thất bại của ông bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, mà trực tiếp là do chiến thuật phòng ngự bị động, với việc lập chiến tuyến cố thủ tại một vùng đồng chiêm trũng, địa bàn chật hẹp, dễ dàng bị cô lập khi bị đối phương bao vây hoặc tấn công. Đây được coi là điển hình của lối đánh chuyến tuyến cố định".
Tên gọi Quảng trường Ba Đình xuất phát từ cuộc khởi nghĩa Ba Đình, Thanh Hóa
Gắn liền với sự kiện ngày 2.9.1945, tại quảng trường Ba Đình, Bác Hồ đọc Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), xung quanh tên gọi Quảng trường Ba Đình có người tưởng là do Bác Hồ đặt tên. Nhưng người đặt tên Ba Đình đầu tiên lại là một người khác. Người đó là bác sĩ Trần Văn Lai.
 Nguồn gốc và tên gọi Quảng trường Ba Đình
Quảng trường Ba đình ngày nay 
Trần Văn Lai (1894 - 1975), ông là Thị trưởng (Đốc lý) đầu tiên và duy nhất của thành phố Hà Nội trong chính phủ Trần Trọng Kim. Nhưng trong một tháng cầm quyền ngắn ngủi đó, ông đã làm được hai công việc vĩ đại là dùng tiếng Việt làm ngôn ngữ hành chính và thay tên cho hầu hết các địa danh ở Hà Nội.
Việc đầu tiên mà ông làm là cho giật đổ hầu hết tượng mà thực dân Pháp đã dựng ở Hà Nội: Tượng bà đầm xòe ở vườn hoa Cửa Nam; tượng Sĩ Công Nông Thương ở vườn hoa Canh Nông (nay là vườn hoa India Gandhi); tượng Toàn quyền Paul Bert ở vườn hoa Paul Bert (nay là vườn hoa Lý Thái Tổ). Việc làm của ông đã được người Hà Nội yêu nước nhiệt tình hưởng ứng. Tiếp đó ông còn tiến hành đổi một loạt tên phố Hà Nội, làm một cuộc thay máu thật sự, để trả lại cho các địa danh Hà Nội những giá trị lịch sử vốn có.
Bác sĩ Trần Văn Lai - người đặt tên cho các tuyến phố tại Hà Nội 
Với uy tín, nỗ lực cá nhân và công lao với cách mạng, bác sĩ Trần Văn Lai là một trong bốn nhân sĩ Hà Nội được Hồ Chí Minh tặng chiếc radio sau năm 1954. Ngày 4 tháng 11 năm 1954, ông được cử làm Ủy viên Ủy ban hành chính Thành phố Hà Nội 
Nhà báo Xuân Ba trong bài viết Chút duyên Ba Đình (Tiền Phong, ra ngày 24.11.2006), đã nói về công lao của vị bác sĩ Trần Văn Lai: “Nhà văn Tô Hoài cho hay, hầu hết tên đường hiện nay ở nội thành đều do một tay bác sĩ Trần Văn Lai đặt cả. Điều hy hữu là ông chỉ giữ chức Thị trưởng từ ngày 20.7 đến 19.8.1945, mốc son của cuộc khởi nghĩa vĩ đại giành chính quyền của nhân dân Hà Nội. Ngài Thị trưởng Hà Nội của chính phủ Trần Trọng Kim về sau đã trở thành Phó Chủ tịch Ủy ban hành chính thành phố Hà Nội rồi Thứ trưởng Bộ Lao động – Thương binh. Một nhiệm kỳ Thị trưởng ngắn ngủi có lẽ nhất hành tinh nhưng ông đã làm thay đổi bộ mặt thành phố bằng nhiều tên phố mới… 
Nhà văn Thái Vũ, người viết hai cuốn tiểu thuyết lịch sử nổi tiếng về Cờ nghĩa và Ba Đình của phong trào Cần Vương tại Thanh Hóa đã đi vào lịch sử, trong thư gửi nhà báo Xuân Ba (Báo Tiền Phong, ra ngày 24.11.2006), đã tự nhìn nhận lại về việc tên gọi Quảng trường Ba Đình mà chính ông đã nhầm lẫn gần 50 năm, chúng tôi lược trích: “Cuộc khởi nghĩa Ba Đình của nghĩa quân Đinh Công Tráng không hiểu sao luôn ám ảnh tôi? Năm 1958, hồi còn học ở đại học, tôi dự tính sẽ viết tiểu thuyết lịch sử về Ba Đình. Viện trưởng Viện Sử học Trần Huy Liệu rất đồng tình. Thầy giáo tôi, cụ Đặng Thai Mai cũng như cụ Lê Thước đều khuyến khích và ai cũng nghĩ tên Quảng trường Ba Đình là do Bác Hồ đặt (có cả ý kiến của đồng chí Trường Chinh nữa).
… Viết mà vẫn áy náy về tên Quảng trường Ba Đình do ai đặt… mãi đến bây giờ khi đọc báo Tiền phong Chủ nhật, số 34, ra ngày 24.8.2003) tôi rất mừng khi biết được người đặt tên Quảng trường Ba Đình là bác sĩ Trần Văn Lai”.
Vai trò và ý nghĩa lịch sử của Quảng trường Ba Đình qua các thời kỳ
Ba Đình là một trong 12 quận của thành phố Hà Nội. Đây là nơi tập trung nhiều cơ quan trung ương nói chung và thành phố Hà Nội nói riêng. Tên gọi Ba Đình xuất phát từ chiến khu Ba Đình của cuộc khởi nghĩa Ba Đình diễn ra từ năm 1886 - 1887 hưởng ứng phong trào Cần Vương cuối thế kỷ 19 của các nhà cách mạng yêu nước là Phạm Bành, Đinh Công Tráng và nhân dân huyện Nga Sơn, Thanh Hóa.
Năm 1945 tên gọi Ba Đình được đặt cho vườn hoa ngã sáu phía sau vườn bách thảo, nơi này chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hóa ngày 2 tháng 9 năm 1945.
Năm 1959, tên gọi Ba Đình được đặt cho một trong tám khu phố nội thành của Hà Nội. Năm 1981 khu phố Ba Đình được đổi tên thành quận Ba Đình như tên gọi hiện tại.
Quảng trường Ba Đình trước đây, nơi đây là một khu vực này nằm trong phạm vi Hoàng Thành Thăng Long. Là quảng trường lớn nhất Việt Nam, nằm trên đường Hùng Vương và trước Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh. Quảng trường Ba Đình ngày nay có khuôn viên với chiều dài 320m và rộng 100m, có 240 ô cỏ, xen giữa là lối đi rộng 1,4m. Giữa quảng trường là cột cờ cao 25m.
Skcs.vn. (Theo Pháp luật TP.HCM)

Các tin khác